Thứ Năm, 24 tháng 5, 2012

Chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng

Chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng

Có nhiều nguyên nhân gây suy dinh dưỡng cho trẻ. Nhưng dù nguyên nhân nào thì hậu quả cũng là trẻ bị thiếu năng lượng và chất dinh dưỡng làm trẻ không tăng cân, chiều cao và giảm trí thông minh. Do đó, chế độ ăn của trẻ suy dinh dưỡng có nguyên tắc chung là làm tăng năng lượng và tăng chất dinh dưỡng.
Tăng dầu mỡ: Vì dầu mỡ cung cấp năng lượng gấp đôi chất bột và chất đạm. Mỗi bát bột, cháo hoặc cơm của trẻ cần có một muỗng canh dầu hoặc mỡ.
Nấu đặc: Vì nếu nấu loãng, nhiều nước thì năng lượng sẽ thấp. Nhưng trẻ sẽ khó ăn do đó ta dùng men amylase (có trong bột mộng bắp) hoặc neopeptin theo chỉ định của bác sĩ nhỏ vào chén bột đặc sẽ làm bột lỏng ra và trẻ sẽ dễ ăn hơn.
Tăng bữa ăn: Ngày ăn 5-6 bữa thay vì chỉ ăn 3 bữa. Cho trẻ ăn thêm bữa tối trước khi ngủ. Nên ăn thêm bữa phụ ví dụ như sau khi ăn bữa chính nếu trẻ ít hơn nửa chén thì cho trẻ uống nửa ly sữa, nửa cốc sữa chua, nửa quả chuối..., vì làm như vậy trẻ đỡ chán ăn.
Tại sao lại một nửa mà không phải là một? Vì chỉ cần cho trẻ ăn thêm vừa sức của trẻ, không nên ép ăn hết khi trẻ đã chán. Vì làm thế, trẻ sẽ nôn thức ăn ra và sẽ rất "sợ ăn" dẫn tới biếng ăn sau này. Đặc biệt trẻ suy dinh dưỡng nên cho ăn thêm một bữa tối trước khi đi ngủ.
Tăng cường chất dinh dưỡng: Thức ăn nên đủ chất dinh dưỡng nhưng trẻ phải ăn cả xác thực phẩm. Do đó, khi chế biến phải chú ý băm nhỏ, nấu mềm và nêm phù hợp với khẩu vị của trẻ. Trẻ thường ăn nhạt và không thích có nhiều mùi gia vị. Những thực phẩm thích hợp với trẻ nhỏ là trứng, thịt băm, cá băm, rau cũng nên xắt nhỏ.
Lưu ý, không nên cho trẻ uống nước trái cây trước khi ăn hoặc coi nước trái cây là một bữa phụ vì nước trái cây rất ít năng lượng, ít chất xơ, chỉ có vitamin tan trong trong nước và có đường nên sẽ làm trẻ "ngang dạ" không muốn ăn bữa chính.
Ngoài ra khi trẻ đã bị suy dinh dưỡng thì trẻ cần bổ sung một số vi chất dinh dưỡng (vitamin và muối khoáng), nên trẻ cần được các bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng khám và theo dõi sức khỏe để cho thuốc thích hợp. Các bà mẹ không nên tự ý mua thuốc cho con vì tuy là "thuốc bổ" nhưng nếu dùng không đúng cũng sẽ gây ra hậu quả không tốt cho sức khỏe của trẻ.

biếng ăn, trẻ biếng ăn, bieng an, bé biếng ăn, be bieng an, dinh dưỡng, suy dinh dưỡng , biếng ăn, bé biếng ăn, trẻ biếng ăn, bieng an, be bieng an, tre bieng an, lười ăn, bé lười ăn, luoi an, be luoi an,
Dinh dưỡng, dinh duong, suy dinh dưỡng, suy dinh duong, dinh dưỡng cho bé, dinh duong cho be, tư vấn dinh dưỡng, tu van dinh duong.
Vitamin cho bé, dung dịch vitamin, dung dịch hoa quả, liquid vitamin, bổ sung vitamin, bo sung vitamin , vatamin cho bé biếng ăn
Liquid vitamin cho bé, liquid for children, dung dịch hoa quả nhập khẩu mỹ, liquid vitamin for children.
Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web biengan.org và www.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.

Cá Quả - 'thần dược' của trẻ suy dinh dưỡng

Có nhiều nguyên nhân gây suy dinh dưỡng cho trẻ như: trẻ không được nuôi đúng phương pháp khi thiếu hoặc không có sữa mẹ; ăn sam (ăn bổ sung) chưa đúng; thời gian ăn bổ sung quá muộn hoặc quá sớm; cai sữa mẹ sớm... Nhưng dù nguyên nhân nào thì hậu quả cũng làm trẻ bị thiếu năng lượng, thấp bé, tăng cân chậm và giảm trí thông minh.
Để bổ sung dinh dưỡng cho trẻ suy dinh dưỡng, một số bài thuốc hay dưới đây sẽ giúp các bậc phụ huynh vơi bớt nỗi lo:
1.    Cháo chim cút
Nguyên liệu: Chim cút 1 con (250 - 300g), gạo nếp 30g, gạo tẻ 50g, vỏ quýt khô 30g, mắm muối vừa đủ.
Chế biến: Chim cút làm sạch (bỏ ruột, phổi, phần đầu từ mắt trở lên, chân), ướp mắm muối trong 20 phút. Vỏ quýt tán thành bột cho vào bụng chim cút, cùng gạo tẻ, gạo nếp nước vừa đủ ninh thành cháo.
Lưu ý: Cho trẻ ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 5 - 10 ngày.
Cá Quả - 'thần dược' của trẻ suy dinh dưỡng - 1
Ảnh minh họa
2.    Cá quả hấp
Nguyên liệu: Cá quả 1 con (khoảng 250g), tỏi 2 tép vừa, bột gia vị vừa đủ.
Chế biến: Cá quả làm sạch bỏ ruột, khía trên mình cá 2 - 3 nhát. Tỏi giã nhỏ cùng bột ngọt, bột gia vị ướp cá, sau 20 phút đem hấp cách thuỷ, khi chín cho trẻ ăn.
Lưu ý: Khi ăn gỡ lấy thịt cá nạc và nước, ngày ăn 1 lần, cần ăn liền 5 - 10 ngày.
3.    Bài thuốc với lươn
Nguyên liệu: Thịt lươn 300g; đương quy, đẳng sâm, gừng tươi mỗi thứ 15g; hành tây 25g, muối ăn vừa đủ.
Chế biến: Lươn rửa sạch, thái sợi, đương quy và đẳng sâm cho vào túi vải, bỏ vào nồi cùng thịt lươn, đổ nước nấu trong 1 giờ, vớt bỏ túi thuốc, gia hành, gừng, muối, nấu thêm 1 giờ nữa là được.
Lưu ý: Cho trẻ ăn thịt lươn và nước.

biếng ăn, trẻ biếng ăn, bieng an, bé biếng ăn, be bieng an, dinh dưỡng, suy dinh dưỡng , biếng ăn, bé biếng ăn, trẻ biếng ăn, bieng an, be bieng an, tre bieng an, lười ăn, bé lười ăn, luoi an, be luoi an,
Dinh dưỡng, dinh duong, suy dinh dưỡng, suy dinh duong, dinh dưỡng cho bé, dinh duong cho be, tư vấn dinh dưỡng, tu van dinh duong.
Vitamin cho bé, dung dịch vitamin, dung dịch hoa quả, liquid vitamin, bổ sung vitamin, bo sung vitamin , vatamin cho bé biếng ăn
Liquid vitamin cho bé, liquid for children, dung dịch hoa quả nhập khẩu mỹ, liquid vitamin for children.
Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web www.biengan.org và www.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.

Chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng

Chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ năng lượng và chất đạm cũng như các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho cơ thể phát triển. Đây là tình trạng bệnh lý hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi.
1.      Nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ em:
Thường là do tổng hợp từ nhiều yếu tố:
-        Do dinh dưỡng: Nuôi trẻ không đúng phương pháp khi mẹ thiếu hoặc mất sữa, cho trẻ ăn bổ sung không đúng cả về số lượng và chất lượng, nguyên nhân quan trọng nhất hay gặp là do bà mẹ thiếu kiến thức dinh dưỡng hoặc không có thời gian chăm sóc con cái.
-        Do ốm đau kéo dài: Trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa nhiều lần, biến chứng sau các bệnh viêm phổi, sởi, lỵ…
-        Do thể tạng dị tật: Trẻ đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, các dị tật sứt môi, hở hàm ếch, tim bẩm sinh.
-        Do điều kiện kinh tế xã hội: Suy dinh dưỡng là một bệnh của nghèo nàn và lạc hậu, có liên quan đến kinh tế, văn hóa, dân trí. Đây là mô hình hệ bệnh tật đặc trưng của các nước đang phát triển.
     Muốn biết trẻ có bị suy dinh dưỡng hay không các bà mẹ cần phải theo dõi cân nặng thường xuyên cho trẻ trên biểu đồ phát triển. Nếu thấy 2-3 tháng liền trẻ không tăng cân cần phải đưa trẻ đi khám bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân.
     Theo tiêu chuẩn cân nặng/tuổi người ta chia suy dinh dưỡng làm 3 độ:
-        Suy dinh dưỡng Độ I: Trọng lượng còn 90% so với tuổi
-        Suy dinh dưỡng Độ II: Trọng lượng còn 75% so với tuổi
-        Suy dinh dưỡng Độ III: Trọng lượng còn dưới 60% so với tuổi.
2.      Những dấu hiệu của trẻ bị suy dinh dưỡng

-        Không lên cân hoặc giảm cân
-        Teo mỡ ở cánh tay, thịt nhẽo.
-        Teo nhỏ: mất hết lớp mỡ dưới da bụng.
-        Da xanh, tóc thưa rụng dễ gãy, đổi màu.
-        Ăn kém, hay bị rối loạn tiêu hóa: ỉa phân sống, ỉa chảy hay gặp.
-        Thể nặng: Có phù hoặc teo đét, có thể biểu hiện của thiếu vitamin gây quáng gà, khô giác mạc đến loét giác mạc. Hiện nay thể nặng rất hiếm gặp.
3.      Các bà mẹ cần phải làm gì khi trẻ bị suy dinh dưỡng.
Với thể vừa và nhẹ (độ I và độ II): Điều trị tại nhà bằng chế độ ăn và chăm sóc.
-        Chế độ ăn: Cho trẻ bú mẹ theo nhu cầu, bất cứ lúc nào kể cả ban đêm.
-        Nếu mẹ thiếu hoặc mất sữa: Dùng các loại sữa bột công thức theo tháng tuổi, hoặc dùng sữa đậu nành (đậu tương).
-        Đối với trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên cho trẻ ăn bổ sung theo tháng tuổi nhưng số bữa ăn phải tăng lên, thức ăn phải nấu kỹ, nấu xong ăn ngay.
-        Tăng đậm độ năng lượng của bữa ăn bằng cách cho tăng thêm enzym (men tiêu hóa) trong các hạt nảy mầm để làm lỏng thức ăn và tăng độ nhiệt lượng của thức ăn. Cụ thể là: có thể dùng giá đậu xanh để làm lỏng thức ăn cho trẻ, tức là có thể tăng lượng bột khô lên 2-3 lần mà độ lỏng của bột không thay đổi. Cứ 10g bột cho 10g giá đậu xanh giã nhỏ lọc lấy nước.
4.      Những loại thực phẩm nên dùng cho trẻ suy dinh dưỡng.
-        Gạo, khoai tây.
-        Thịt: gà, lợn, bò, tôm, cua, cá, trứng.
-        Sữa bột giàu năng lượng: Theo hướng dẫn cụ thể của Bác sĩ.
-        Dầu, mỡ.
-        Các loại rau xanh và quả chín.
5.      Chế độ ăn với trẻ suy dinh dưỡng nặng (độ III).

Cho nhiều bữa trong ngày.
-        Tăng dần calo.
-        Dùng sữa cao năng lượng: Theo chỉ định và tư vấn trực tiếp của Bác sĩ


Trẻ cần được ăn bổ sung theo các chế độ ăn giống như trẻ bình thường. Số lượng một bữa có thể ít hơn nhưng số bữa ăn nhiều hơn trẻ bình thường.

Những trẻ có suy dinh dưỡng nặng kèm theo tiêu chảy hoặc viêm phổi phải đưa vào điều trị tại bệnh viện.
6.      Ngoài chế độ ăn còn cho trẻ ăn bổ sung thêm một số Vitamin và muối khoáng.
-        Các loại Vitamin tổng hợp.
-        Chế phẩm có chứa sắt chống thiếu máu.
-        Men tiêu hóa (nhưng phải dùng theo chỉ định của thầy thuốc).
7.      Chăm sóc trẻ bị suy dinh dưỡng.
-        Trẻ phải được vệ sinh, tắm rửa sạch sẽ.
-        Phải giữ ấm về mùa đông, phòng ở thoáng mát về mùa hè, đầy đủ ánh sáng.
8.      Một số mẫu thực đơn phục hồi trẻ suy dinh dưỡng tại nhà (SDD độ I và II).

Các bạn có thể tham khảo và áp dụng một số thực đơn sau để phục hồi trẻ suy dinh dưỡng tại nhà:
a.      Trẻ dưới 6 tháng: Bú sữa mẹ theo nhu cầu của trẻ. Chú ý chăm sóc dinh dưỡng cho Bà mẹ để mẹ có đủ sữa nuôi con (Bà mẹ cần ăn đủ, ngủ tốt, làm việc nhẹ nhàng). Trường hợp mẹ không đủ sữa mà phải dùng các sản phẩm thay thế sữa mẹ thì phải có chỉ định của Bác sĩ.
b.      Trẻ từ 6 – 12 tháng:
Cho trẻ ăn nước cháo xay trộn sữa như trên nhưng tăng thêm lượng thịt, gạo và rau củ, trường hợp trẻ không thích ăn cháo trộn sữa thì dùng sữa cao năng lượng pha với nước sôi để ấm theo hướng dẫn mỗi ngày uống 500ml và cho ăn bột hoặc cháo xay 3 -4 bữa/ngày, trẻ ăn ít có thể tăng số bữa lên, dùng nước giá đậu xanh để làm lỏng thức ăn: 10g giá đậu xanh/10g bột (giá đậu xanh giã nhỏ lọc lấy nước nấu bột).

c.       Trẻ 13 -24 tháng:

6h: 150 – 200ml sữa cao năng lượng
9h: Cháo thịt + rau: 200ml (1 bát ăn cơm)
-        Gạo tẻ: 30g (1 nắm tay)
-        Thịt nạc: 50g (hoặc cá, tôm, cua: 50g, trứng gà: 1 quả)
-        Dầu: 10ml (2 thìa cà phê)
-        Rau xanh: 20g (2 thìa cà phê)
12h: Sữa: 200ml
14h: Chuối tiêu: 1 quả hoặc đu đủ 1 miếng
17h: Cháo thịt (cá, tôm, trứng) + rau + dầu
Nếu trẻ đang bú mẹ vẫn phải tiếp tục cho bú và thời gian cho bú kéo dài từ 18 – 24 tháng. Khi cai sữa vẫn nên cho trẻ ăn thêm sữa bò hoặc sữa đậu nành.

d.   Trẻ 25 – 36 tháng:
 
    7h: Sữa cao năng lượng: 200ml
    11h: Cơm nát + thịt (cá, trứng, tôm...) + canh rau.
    Cơm: 2 lưng bát (70g gạo), thịt: 50g (hoặc trứng: 1 quả), rau: 100g, dầu (mỡ): 5g
    14h: Cháo + thịt + rau + dầu: 200ml
    Gạo tẻ: 30g (1 nắm tay), thịt nạc: 50g (hoặc cá, tôm, cua: 50g, trứng gà: 1 quả), dầu: 10ml (2 thìa cà phê), rau xanh: 20g (2 thìa cà phê).
    17h: Cơm nát + trứng (thịt, cá, tôm...) + canh rau
    20h: Hỗn hợp bột dinh dưỡng: 200ml, hoặc súp: khoai tây thịt + rau + dầu (mỡ): 1 bát con.
    Súp khoai tây gồm có khoai tây: 100g (1 củ to), thịt (gà, bò, lợn): 50g, bắp cải: 50g, dầu (mỡ): 1 thìa cà phê.
    Ăn thêm các loại quả chín theo nhu cầu của trẻ.

Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web biengan.org và www.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.

Phòng tránh suy dinh dưỡng cho bào thai

Phòng tránh suy dinh dưỡng cho bào thai
Nguyên nhân của bệnh suy dinh dưỡng bào thai thường do trong thời gian mang thai, người mẹ không được ăn uống đầy đủ, làm việc và nghỉ ngơi không hợp lý hoặc bị ốm đau bệnh tật.
Những trẻ đủ tháng có cân nặng lúc đẻ dưới 2.500g là những trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai (SDDBT). Nguyên nhân thường do trong thời gian mang thai, người mẹ không được ăn uống đầy đủ, làm việc và nghỉ ngơi không hợp lý hoặc bị ốm đau bệnh tật. Thường các bà mẹ có mức tăng cân ở cuối thai kì thấp, dưới 6 kg, chắc chắn đã bị SDDBT.
SDDBT là thể suy dinh dưỡng sớm nhất. Ở những trẻ này, các cơ quan như da, gan, cơ, xương, não, thân,… đều bị ảnh hưởng mà điều dễ nhận thấy nhất là trẻ sinh ra nhẹ cân. Hậu quả của tình trạng này phụ thuộc vào giai đoạn bào thai bị suy dinh dưỡng (SDD), chế độ nuôi dưỡng trẻ sau khi chào đời. SDD xảy ra ở 3 tháng cuối của thai kì làm cho bộ não chậm phát triển, sau này trẻ sẽ kém thông minh. Trẻ bị SDD bào thai khi chào đời dễ bị hạ thân nhiệt, hạ đường máu gây rối loạn nhịp thở, hạ canxi máu gây co giật. Nếu được nuôi dưỡng đúng, trẻ sẽ phát triển bình thường và sẽ đạt mức cân nặng như những trẻ khác sau 2- 3 tháng. Nhưng chiều cao thì rất khó đạt được mức bình thường vì vậy, trẻ SDDBT có nguy cơ cao bị thấp còi sau này, và dễ bị thừa cân béo phì do thấp chiều cao. Ngược lại, nuôi dưỡng không tốt, trẻ tiếp tục bị SDD, trẻ ốm đau, quặt quẹo,còi cọc, chậm phát triển trí tuệ, kém thông minh. Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), có đến 1/3 số trẻ có cân nặng khi sinh dưới 2.500g chết trong năm đầu.
Tại sao trẻ lại bị SDDBT?
Có 4 yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc phát triển của bào thai, tác động đến sức khỏe sau này của đứa trẻ, mà chỉ cần có lời khuyên cho cho người mẹ cũng có thể đem lại kết quả đáng khích lệ. Đó là : 
Tuổi tác người mẹ: Cơ thể của con người được phát triển và lớn lên trong một quá trình rất dài cho đến năm 25 tuổi mới thực sự ngừng lớn và phát triển hoàn toàn, với người phụ nữ cũng vậy. Tuy nhiên, với cơ thể phụ nữ thì tuổi 30 trở đi đã bắt đầu có hiện tượng thoái hóa, già cỗi dần.
Chính vì vậy, thời gian thực thiên chức sinh sản, sinh con tốt nhất của người phụ nữa là từ 25 đến 30 tuổi. Nếu đẻ sớm hơn, đẻ trước 25 tuổi sẽ làm cho cơ thể người mẹ ngừng lớn, ngừng phát triển, vì  phải chia sẽ phần mình cho cái thai. Luận điểm trên có thể lý giải cho hiện tượng, ở các nước nghèo, chậm phát triển, đặc biệt là các nước ở phương Đông, Châu  Á, do tục lệ gả chồng sớm cho con gái, đã làm cho phụ nữ thấp bé, còi cọc, đứa trẻ đẻ ra cũng dễ bị còi cọc cho dù người chồng có cao to. Điều này có nghĩa là tầm vóc, chiều cao của người mẹ sẽ quyết định tầm vóc, chiều cao của các con. Tầm vóc phụ thuộc vào tuổi của người mẹ lúc mang thai. Tuổi của người mẹ không những ảnh hưởng đến chiều cao của trẻ, mà còn có thể vì tuổi quá lớn vẫn sinh con dễ đẻ ra những đứa trẻ không bình thường, bị dị tật bẩm sinh, điển hình là hội chứng down, tim bẩm sinh, hở hàm ếch, sứt môi, nên sau 35 tuổi sinh đẻ sẽ không an toàn.   Sức khỏe người mẹ: Sức khỏe của mẹ sẽ quyết định sức khỏe của con. Nếu mẹ khỏe mạnh sẽ đẻ ra những đứa con khỏe mạnh. Trong thời gian có thai, mẹ bị cúm, sốt phát ban, mắc các bệnh nhiễm khuẩn cấp, sẽ dễ đẻ ra những đứa trẻ bị dị tật bẩm sinh. Khi mẹ đang có những bệnh mãn tính như sốt rét, viên gan, thấp tim, phù thận, cần phải chữa khỏi bệnh rồi mới mang thai. Có những bệnh của người mẹ có khả năng lây truyền cho con như giang mai, AIDS, vì vậy cần khám sức khỏe nếu thực sự an toàn khỏe mạnh hãy sinh con.
Có một số bệnh di truyền, mẹ mang các gen bệnh trong người nhưng vì thể ẩn nên không biểu hiện thành bệnh (như một số các bệnh nội tiết và di truyền, chuyển hóa). Trong trường hợp này bà mẹ cần đến gặp các thầy thuốc nhi khoa về di truyền học, nội tiết học, để có lời khuyên và những biện pháp chấn đoán sớm, cái thai nào mang mầm bệnh cần chấm dứt sớm để không đẻ ra những đứa con mang bệnh.
Dinh dưỡng của người mẹ: Thời kì trẻ còn trong bào thai, dinh dưỡng của trẻ phụ thuộc vào dinh dưỡng của mẹ. Nguồn dinh dưỡng của mẹ, sẽ theo máu, qua rau thai đến cung cấp cho con. Vì vậy, khi có thai người mẹ vừa ăn cho mình, vừa ăn cho con. Thành phần dinh dưỡng lúc này không phải chỉ cần có số lượng, ăn nhiều và đủ mà mẹ phải ăn có chất mới bảo đảm sự phát triển của bào thai. Ví dụ, người mẹ chỉ ăn đủ no, nhưng bữa ăn toàn chất bột, cơm ngô khoai sắn. Đứa con cũng sẽ to nhưng chiều cao sẽ ngắn, lớn lên sẽ thấp lùn.
Vì để cấu tạo nên bộ khung xương, cơ thể của trẻ cần có đủ chất đạm, đó là thịt, trứng, đậu , tôm , cá. Những chất này sẽ xây dựng các tổ chức cơ quan cho trẻ như hệ thống não thần kinh trung ương, tim , gan ,phổi,bộ máy tiêu hóa,hô hấp, tuần hoàn, tiết niệu,…Mẹ cần phải ăn đủ rau xanh, hoa quả ,vì trong đó sẽ cho nhiều chất khoáng như sắt,đồng,kẽm,canxi,photpho cũng như các loại vitamin A, ảnh hưởng đến phát triển trí tuệ, còi xương, mù lòa do thiếu vitamin A, …Ở những nước phá triển, không chờ đến khi có thai mới đặt vấn đề chăm sóc bà mẹ, mà việc chăm sóc này được làm sớn hơn nhiều, ngay từ khi còn là một bé gái (bảo đảm ăn uống đủ chất để cơ thể phát triển cân đối, tầm vóc cao khỏe), có thế mới có được một thế hệ tương lai khỏe mạnh hơn.
Điều kiện lao động của mẹ khi mang thai: Bình thường, khi chúng ta lao động đã phải tiêu hao năng lượng, lao dodongj càng nặng thì tiêu hao năng lượng càng nhiều. Khi có thai, ngoài năng lượng tiêu hao do lao động, người mẹ còn phải dành một phần đáng kể năng lượng cho phát triển cuả thai nhi và dự trữ để sinh sữa cho con bú sau này.
Cuối thai kì (tức sau 9 tháng 10 ngày), bà mẹ cần phải tăng cân được 12kg trở lên, 3 tháng đầu chỉ tăng 1kg, 3 tháng thứ 2 tăng 5kg, 3 tháng cuối mỗi tháng tăng 2kg. Số cân nặng này chia cho bào thai, rau thai, nước ối, và máu hết 7,5kg, 5kg còn lại được chuyển vào mô mỡ dự trữ để tiết sữa nuôi con.
Nếu mẹ chỉ tăng được 6-7kg trong thời kì mang thai thì sau sinh con, mẹ không còn gì đề sinh sản nữa. Điều này đã giải thích vì sao ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều bà mẹ ít sữa, mất sữa sớm,không có sữa để nuôi con.
Tóm lại 4 yếu tố trên đây rất có ý nghĩa quyết định đến phát triển bào thai, sức khỏe đứa trẻ lúc ra đời, sức khỏe thể chất và trí tuệ lâu dài sau này.
Khi trẻ đẻ ra bị suy dinh dưỡng bào thai, phải nuôi dưỡng chăm sóc như thế nào?
 Với những đứa trẻ bị SDDBT, việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ có tầm quan trọng đặc biệt :
- Cần ủ ấm trẻ thường xuyên, tốt nhất cho nằm cạnh mẹ ngay khi sinh.
-  Theo dõi sát sao để phát hiện sớm và xử trí kịp thời khi có dấu hiệu trẻ bị hạ đường máu, hạ canxi máu.
- Tắm rửa bằng nước sạch, thay băng rốn hằng ngày.
- Cho trẻ bú, mẹ sớm, trong nửa giờ đầu sau khi lọt lòng mẹ; cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời, cho trẻ bú nhiều lần (kể cả ban đêm) hơn những trẻ có cân nặng bình thường. Nếu trẻ bú kém, cần vắt sữa mẹ ra cốc rồi cho ăn bằng thìa. Trường hợp mẹ thiếu hoặc mất sữa, chọn loại sữa cao năng lượng cho trẻ sinh nhẹ cân.
- Chỉ ăn bổ sung khi trẻ được 6 tháng tuổi, phải bảo đảm khẩu phần ăn của trẻ đầy đủ chất dinh dưỡng cả về lượng và chất. Trẻ ăn ít nên cho ăn nhiều bữa trong ngày, chế biến thức ăn có đậm độ năng lượng cao bằng cách dùng các men emzym, sắt,kẽm, vitamin A,D… để giúp trẻ phát triển chiều cao, phòng ngừa SDD thấp còi sau này.
- Cho trẻ uống vitamin A, vitamin D và tiêm vắc-xin phòng bệnh đầy đủ theo quy định của bộ Y tế.
- Ngoài chế độ ăn nên bổ sung các vi chất dinh dưỡng như : kẽm, canxin,vitamin D, A, … dưới dạng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ để giúp trẻ phát triển chiều cao, phòng ngừa thừa cân do béo phì thấp còi.
Để chủ động phòng ngừa SDDBT, cần có kế hoạch chăm sóc bà mẹ tương lai ngay từ khi còn nhỏ, không để các em gái bị SDD, thấp cân, còi cọc. Khi mang thai, cần được ưu tiên ăn uống đầy đủ, làm việc, nghỉ ngơi hợp lý để có thể đạt mức tăng cân nặng trung bình đến cuối thai kì là 10-12kg; không để ốm đau, thiếu máu trước và sau sinh.

Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web www.biengan.org và www.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.

Làm thế nào để phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em. Bố Mẹ cần phải quan tâm đến chế độ ăn uống của trẻ như thế nào?

1. Tầm quan trọng của suy dinh dưỡng:

Suy dinh dưỡng do thiếu protein- nǎng lượng (thường gọi là suy dinh dưỡng) là tình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em nước ta. Biểu hiện của suy dinh dưỡng là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy và viêm đường hô hấp, trẻ bị giảm khả nǎng học tập, nǎng suất lao động kém khi trưởng thành.



Nǎm 2000 ở nước ta có 2,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, chủ yếu là suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa. Tuy vậy, các thể suy dinh dưỡng này cũng có ý nghĩa quan trọng vì đứa trẻ dễ mắc bệnh, tǎng nguy cơ tử vong và thường kèm theo thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng. Đáng chú ý là trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa ít được người mẹ, các thành viên khác trong gia đình chú ý tới vì trẻ vẫn bình thường. ở một cộng đồng (xóm, làng, xã) có nhiều trẻ suy dinh dưỡng, ta càng khó nhận biết được vì chúng đều "nhỏ bé" như nhau. Do đó, suy dinh dưỡng trẻ em cần được sự quan tâm của mọi người.

2. Làm thế nào để biết trẻ bị suy dinh dưỡng?

Theo dõi cân nặng hàng tháng là cách tốt nhất để nhận ra đứa trẻ bị suy dinh dưỡng hay không. Trẻ bị suy dinh dưỡng khi không tǎng cân, nhẹ cân hơn đứa trẻ bình thường cùng tuổi.

3. Tại sao trẻ bị suy dinh dưỡng?

Thiếu ǎn, bữa ǎn thiếu số lượng, thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển:

Trẻ dưới 5 tuổi có nhu cầu dinh dưỡng cao để phát triển cơ thể. Để đáp ứng nhu cầu đó, cần cho trẻ ǎn uống đầy đủ theo lứa tuổi. Trẻ dưới 4 tháng tuổi cần được bú mẹ hoàn toàn. Sữa mẹ là thức ǎn lý tưởng của trẻ nhỏ. Từ tháng thứ 5 trẻ bắt đầu ǎn thêm ngoài sữa mẹ. Từ tháng tuổi này, thực hành nuôi dưỡng trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với suy dinh dưỡng. Nhiều bà mẹ chỉ cho trẻ ǎn bột muối, thức ǎn sam (dặm) thiếu dầu mỡ, thức ǎn động vật, rau xanh, hoa quả. Đây là những tập quán nuôi dưỡng chưa hợp lý cần được khắc phục. Mặc khác, để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, trẻ cần được ǎn nhiều bữa trong ngày vì trẻ nhỏ không thể ǎn một lần với khối lượng lớn như trẻ lớn hoặc người lớn. Điều này có liên quan đến vấn đề chǎm sóc trẻ.

Người mẹ bị suy dinh dưỡng: Người mẹ trước và trong khi mang thai ǎn uống không đầy đủ dẫn đến bị suy dinh dưỡng và có thể đẻ ra đưa con nhẹ cân, còi cọc. Đứa trẻ bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai sẽ dễ bị suy dinh dưỡng sau này. Người mẹ bị suy dinh dưỡng, ǎn uống kém trong những tháng đầu sau đẻ dễ bị thiếu sữa hoặc mất sữa, do đó đứa con dễ bị suy dinh dưỡng.

Các bệnh nhiễm khuẩn như viêm đường hô hấp, tiêu chảy, các bệnh ký sinh trùng: Đây là tình trạng hay gặp ở nước ta. Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý khi trẻ bệnh là một nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng sau mắc bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi.

Thiếu chǎm sóc hay đứa trẻ bị "bỏ rơi": Ngoài chǎm sóc về ǎn uống, đứa trẻ cần chǎm sóc về sức khoẻ (tiêm chủng, phòng chống nhiễm khuẩn), chǎm sóc về tâm lý, tình cảm và chǎm sóc về vệ sinh. Môi trường sống ở gia đình bị ô nhiễm, sử dụng nguồn nước không sạch để nấu ǎn, tắm giặt cho trẻ, sử lý nước thải, phân, rác không đảm bảo là những yếu tố dẫn đến suy dinh dưỡng.

4. Những đứa trẻ nào dễ bị suy dinh dưỡng?

Trẻ từ 6-24 tháng: thời kỳ có nhu cầu dinh dưỡng cao, thời kỳ thích ứng với môi trường, thời kỳ nhạy cảm với bệnh tật.

Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc không đủ sữa.

Trẻ đẻ nhẹ cân (<2500g), trẻ để sinh đôi, sinh ba.

Trẻ ở gia đình đông con, điều kiện vệ sinh kém, gia đình không hoà thuận.

Trẻ hiện đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn như: bệnh sởi, tiêu chảy hay viêm đường hô hấp ...

5. Cần làm gì để phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại mỗi gia đình?

Muốn phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, cần có sự hiểu biết, chủ động và thay đổi thực hành của mỗi gia đình. Do đó, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng lấy gia đình là đối tượng thực hiện công tác chǎm sóc dinh dưỡng cho trẻ em. Mọi gia đình đều hưởng ứng và thực hiện 8 nội dung cụ thể sau đây:

Chǎm sóc ǎn uống của phụ nữ có thai để đạt mức tǎng cân 10-12 cân trong thời gian có thai. Khám thai ít nhất 3 lần, tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván.

Cho trẻ bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh, bú hoàn toàn sữa mẹ trong 4 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18-24 tháng.

Cho trẻ ǎn bổ sung (ǎn sam, dặm) từ tháng thứ 5. Tô màu đĩa bột, tǎng thêm chất béo (dầu, mỡ, lạc, vừng). ǎn nhiều bữa.

Thực hiện phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng: Phụ nữ có thai uống viên sắt/ acid folic hàng ngày. Trẻ em 6-36 tháng uống vitamin A liều cao 2 lần một nǎm. Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, viêm đường hô hấp). Thực hiện tiêm phòng đầy đủ. Chǎm sóc và nuôi dưỡng hợp lý trẻ bị bệnh.

Phát triển ô dinh dưỡng trong hệ sinh thái VAC (vườn, ao, chuồng) để có thêm thực phẩm cải thiện bữa ǎn gia đình. Chú ý nuôi gà, vịt để trứng, trồng rau ngót, đu đủ, gấc.

Phấn đấu bữa ǎn nào cũng có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm (cung cấp nǎng lượng), cần có đủ 3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ); đậu phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp ǎn ngon miệng.

Thực hiện vệ sinh môi trường, dùng nguồn nước sạch, tẩy giun theo định kỳ, rửa tay trước khi ǎn và sau khi đi đại tiểu tiện. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm, thức ǎn không là nguồn gây bệnh.

Thực hiện gia đình hạnh phúc, có nếp sống vǎn hoá, nǎng động, lành mạnh. Có biểu đồ tǎng trưởng để theo dõi sức khoẻ của trẻ. Không có trẻ suy dinh dưỡng, không sinh con thứ ba.

Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web www.biengan.org và www.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.

Nguyên nhân trẻ suy dinh dưỡng: Ăn dặm thiếu khoa học



Theo các chuyên gia dinh dưỡng, giai đoạn ăn dặm dễ khiến trẻ bị suy dinh dưỡng nhất do các bữa ăn thường thiếu các vi chất cần thiết cho cơ thể.
Chế độ ăn không hợp lý
Ths.BS Lưu Thị Mỹ Thục, Trưởng khoa Dinh dưỡng, BV Nhi TƯ cho biết, mỗi ngày trung bình bệnh viện phải tiếp nhận 50 – 60 trẻ nhỏ đến khám và tư vấn dinh dưỡng. Tình trạng suy dinh dưỡng (SDD) nhẹ cân và SDD thấp còi ở trẻ em hiện nay chủ yếu do thời điểm ăn dặm và chế độ ăn không hợp lý, khiến nhiều trẻ còi cọc, số khác lại tăng cân quá mức, béo phì.
Ngoài ra, do một số trẻ sức đề kháng còn yếu, hệ miễn dịch chưa hoàn thiện nên hay bị ốm. Nhiều bà mẹ thấy con bị bệnh như tiêu chảy, sốt, ban đỏ... lại cho trẻ ăn uống kiêng khem quá mức, khiến trẻ rơi vào tình trạng SDD quá nặng.
BS Nguyễn Thị Diệu, Khoa Dinh dưỡng, BV Nhi TƯ cho biết, trẻ SDD có thể gặp ngay từ thời kỳ mang thai nếu người mẹ không được chăm sóc tốt, hoặc sau khi sinh trẻ không được chăm sóc một cách khoa học. Phần lớn trẻ dễ bị SDD trong khoảng thời gian từ 6 - 24 tháng tuổi. Đây là thời kỳ trẻ nhỏ có nhu cầu dinh dưỡng cao, đang tập thích ứng với môi trường và rất nhạy cảm với bệnh tật, nhất là những trẻ không được bú sữa mẹ, sinh nhẹ cân hoặc sinh đa thai.
Về việc ăn dặm không đúng thời điểm khiến trẻ SDD, BS Nguyễn Thị Diệu cho biết thêm, nếu cho ăn dặm sớm, trẻ dễ bị tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa và rất khó hấp thụ thức ăn vì hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện. Nhưng nếu cho trẻ ăn dặm muộn cũng làm cho trẻ thiếu năng lượng, chất đạm và nhiều chất dinh dưỡng khác. Vì từ tháng thứ 6 trở đi, nhu cầu các chất khoáng như sắt, kẽm của trẻ tăng cao mà sữa mẹ bắt đầu không cung cấp đủ.
Thời điểm tối ưu để cho trẻ ăn dặm là khi trẻ ở tháng thứ 5, vì lúc này, chức năng tiêu hóa của ruột và khả năng của thận trẻ đã khá hoàn thiện, sẵn sàng cho việc ăn, uống ngoài sữa mẹ.
Ăn dặm đúng cách
Theo Ths.BS Lưu Thị Mỹ Thục, giai đoạn ăn dặm là giai đoạn tạo nền tảng sức khỏe và thói quen ăn uống sau này của trẻ. Việc ép ăn hoặc chế biến thức ăn đơn điệu trong giai đoạn này sẽ dẫn tới tình trạng trẻ biếng ăn, lâu dần khiến trẻ gầy ốm, chậm tăng cân so với lứa tuổi. Một sai lầm nữa của nhiều bà mẹ hiện nay thường thấy trẻ biếng ăn là cho cai sữa luôn, bắt trẻ ăn dặm đột ngột khiến cho trẻ không thích nghi kịp. Trẻ sẽ càng bị SDD nặng hơn vì việc cai sữa sẽ làm mất 300 – 400ml sữa mỗi ngày, cộng thêm việc trẻ biếng ăn do còn quen bú sữa mẹ.
Vì vậy, cần cho trẻ ăn từ ít đến nhiều, từ thức ăn loãng đến đặc. Số lượng thức ăn và bữa ăn tăng dần theo tuổi. Ban đầu chỉ cho trẻ ăn một nhóm thức ăn là tinh bột, sau đó mới thêm các nhóm thức ăn khác như rau, thịt, cá... “Phải cho trẻ ăn cả phần xác thịt, xác cá, xác rau vì chất dinh dưỡng nằm ở phần xác nhiều hơn ở phần nước. Nếu trẻ ăn thiếu rau, cùng với việc thiếu dầu mỡ dễ làm cho trẻ thiếu vitamin A và thiếu vitamin D dẫn tới còi xương. Khi trẻ mới tập ăn dặm nên cho ăn khi trẻ đói, tốt nhất là buổi sáng. Chỉ cho ăn 1 bữa/ngày, mỗi bữa nên ăn từ 1 - 3 muỗng nhỏ. Sau khi ăn phải cho bú thêm”- BS Thục lưu ý.
BS Nguyễn Thị Diệu khuyên, trong bữa ăn của trẻ cần đủ các nhóm thức ăn cơ bản: Bột đường, đạm (thịt, cá, tôm, cua), chất béo (dầu ăn, vừng lạc...) và các loại rau, trái cây. Chế độ ăn tốt nhất là một chế độ ăn đa dạng, thường xuyên thay đổi thức ăn để tránh nhàm chán. Các thức ăn nên được trình bày vui mắt, nhiều màu sắc, đựng trong những chiếc bát có hình thù ngộ nghĩnh để tạo cảm giác cho trẻ thích thú với món ăn.
Theo thống kê của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, 33,9% số trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi, khoảng 30% trẻ thiếu kẽm, 34% thiếu sắt. Chế độ ăn của trẻ em Việt Nam mới chỉ đạt 30 – 50% so với nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày. Điều này đã dẫn tới tình trạng là trong hai thập kỷ qua, người trưởng thành Việt Nam chỉ cao thêm trung bình 1,5cm. Có tới 30 – 40% số trẻ dưới 2 tuổi có chiều cao thấp (tính theo lứa tuổi).

Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web www.biengan.org và www.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.

Suy dinh dưỡng ở trẻ em cách nhận biết nguyên nhân chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng và cách phòng tránh suy dinh dưỡng cho trẻ


Suy dinh dưỡng là một tình trạng bệnh lý rất thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ nhỏ dưới 3 tuổi làm ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển và sức khoẻ của trẻ.
Đâu phải chỉ trẻ em nhà nghèo bị suy dinh dưỡng
Nguyên nhân gây suy dinh dưỡng ở trẻ em có nhiều, chủ yếu là do nuôi dưỡng kém, như mẹ không có sữa hoặc thiếu sữa phải nuôi nhân tạo, cho trẻ ăn sam quá sớm (dưới 4 tháng) và cho ăn không đủ chất dinh dưỡng, cai sữa cho trẻ quá sớm (dưới 1 năm), v.v...
Tình trạng kiêng khem vô lý, bắt trẻ ăn cháo muối, hoặc ăn bột, ăn cháo với ít nước mắm, mì chính kéo dài trong và sau các đợt bị tiêu chảy của nhiều bà mẹ cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ.
Ngoài ra ta phải kể đến các bệnh nhiễm khuẩn như sởi, ho gà, viêm phổi, lao, hội chứng lỵ... làm cơ thể trẻ suy yếu, biếng ăn, rối loạn tiêu hoá kéo dài cũng dễ làm trẻ bị suy dinh dưỡng. Ngược lại, trẻ bị suy dinh dưỡng, cơ thể suy yếu, sức đề kháng với bệnh tật giảm nên rất dễ mắc những bệnh nhiễm khuẩn và bị bệnh nặng, dễ tử vong. Vòng luẩn quẩn suy dinh dưỡng - bệnh nhiễm khuẩn càng làm tình trạng suy dinh dưỡng nặng thêm và việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn càng trở nên phức tạp, khó khăn.
Như vậy, đâu phải chỉ trẻ em nhà nghèo thiếu ăn bị suy dinh dưỡng, mà bệnh có thể xảy ra cả ở con em những gia đình khá giả thừa ăn nhưng nuôi trẻ không đúng phương pháp, cho trẻ ăn uống không hợp lý, hoặc do những kiêng khem vô lý trong và sau những lần trẻ bị bệnh, nhất là sau các đợt tiêu chảy.
Những dấu hiệu và các thể suy dinh dưỡng thường gặp
Các dấu hiệu dễ thấy nhất để phát hiện trẻ bị suy dinh dưỡng là:
Trẻ không lên cân mà còn sụt cân.
Lớp mỡ dưới da mỏng, cơ thể gầy yếu, bắp thịt nhẽo.
Trẻ biếng ăn, nôn trớ, rối loạn tiêu hoá, tóc thưa dễ rụng, mỏi mệt, lờ đờ, có thể bị phù nề, ngoài da có những đám sắc tố, lở loét...
Ngoài ra, có thể thấy gan trẻ to ra vì thoái hoá mỡ, mắt bị khô hoặc viêm loét giác mạc do thiếu vitamin A. Phần lớn trẻ suy dinh dưỡng bị thiếu vitamin A dẫn đến khô, loét giác mạc mắt ở các mức độ khác nhau, nếu nặng có thể gây mù loà.
Có hai thể suy dinh dưỡng chính:
1. Suy dinh dưỡng thể đét (Marasmus): Trẻ gầy đét, da bọc xương, da nhăn nheo, lớp mỡ dưới da có thể bị mất hết, các bắp cơ ở tay, chân teo nhỏ, vòng cánh tay nhỏ hơn trẻ bình thường, cân nặng giảm tới 40% hoặc hơn, không phù.
2. Suy dinh dưỡng thể phù (Kwashiorkor): Trẻ bị phù, đặc biệt ở hai chân. Trên da trẻ có nhiều mảng sắc tố màu nâu, có nơi bong ra để lại các mảng màu đỏ, rỉ nước. Cân nặng giảm ít hơn thể trên.
Ngoài hai thể suy dinh dưỡng trên, người ta có thể gặp thể kết hợp, vừa teo đét vừa phù. Trên gầy đét, lớp mỡ dưới da mỏng; cơ teo, nhẽo; rối loạn tiêu hoá; có phù nhẹ.
Cách nhận biết suy dinh dưỡng ở trẻ
Con bạn có thể đã bị suy dinh dưỡng nếu chậm tăng cân, đứng cân hoặc sụt cân. Trẻ suy dinh dưỡng thường biếng ăn, ăn ít, môi xanh, niêm mạc mắt nhợt nhạt.
Các dấu hiệu thường gặp khác ở trẻ suy dinh dưỡng là buồn bực, hay quấy khóc, ít vui chơi, kém linh hoạt. Các bắp thịt tay chân mềm nhão, bụng to dần. Trẻ chậm phát triển vận động: chậm biết lẫy, ngồi, bò, đi đứng.
Để xác định trẻ có suy dinh dưỡng hay không, ngoài việc quan sát các dấu hiệu trên, cha mẹ còn có thể dựa vào các chỉ số chuẩn để so sánh với con mình. Cách thứ nhất là dựa vào cân nặng theo tuổi. Khi trẻ mới sinh nặng cỡ 3 kg, sau 5 tháng tăng gấp đôi, 12 tháng tăng gấp ba; sau đó mỗi năm tăng thêm 2 kg. Khi bé 6 tuổi thì cân nặng phải là 20 kg. Nếu ở vùng xa không có cân, có thể đo vòng cánh tay trẻ 1-5 tuổi. Trẻ bình thường 14-15 cm; nếu dưới 13 cm là suy dinh dưỡng.
Cách thứ hai là dựa vào chiều cao theo tuổi. Khi mới sinh trẻ dài 50 cm, 6 tháng dài 65 cm, 12 tháng: 75 cm, 2 tuổi: 85 cm, 3 tuổi: 95 cm, 4 tuổi: 100 cm. Sau đó, mỗi năm chiều cao tăng thêm 5 cm, khi bé 8 tuổi phải cao 120 cm.
Trẻ dễ bị suy dinh dưỡng nhất trong khoảng thời gian từ 6 đến 24 tháng tuổi. Đây là thời kỳ các em bé có nhu cầu dinh dưỡng cao, đang tập thích ứng với môi trường và rất nhạy cảm với bệnh tật; nhất là những trẻ không được bú sữa mẹ, sinh nhẹ cân hoặc sinh đa thai. Những cháu ở gia đình đông con, điều kiện vệ sinh kém hoặc đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn (như sởi, tiêu chảy hay viêm đường hô hấp) cũng dễ bị suy dinh dưỡng.
Thông thường các bà mẹ cho rằng trẻ nhỏ cần ăn ít. Họ không nắm được trẻ cần ăn bao nhiêu trong ngày chứ không phải không có khả năng cung cấp đầy đủ. Trung bình trẻ cần ăn 4 -5 bát cháo đậu hoặc cơm nát mỗi ngày. Nhiều gia đình cho rằng trẻ đã lớn, ăn theo người lớn 2-3 bữa là đủ. Thực ra dung tích dạ dày của trẻ có hạn nên ngoài ba bữa với gia đình, trẻ cần được ăn thêm 2-3 bữa phụ như sữa, cháo, chè, chuối... Các bà mẹ cũng đừng nghĩ rằng trẻ cần ăn cơm sớm để cứng cáp, vì sau hai tuổi trẻ mới có đủ răng sữa để nhai tốt.
Trẻ biếng ăn thường được mẹ cho dứt sữa để ăn khá hơn. Đây là một sai lầm vì các trẻ này sau khi bị dứt sữa càng bị suy dinh dưỡng nặng hơn vì mất đi 300-400 ml sữa mỗi ngày trong khi vẫn biếng ăn. 
(Theo Tiếp Thị & Gia Đình)
Chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng
Có nhiều nguyên nhân gây suy dinh dưỡng (SDD) cho trẻ. Nhưng dù nguyên nhân nào thì hậu quả cũng làm trẻ bị thiếu năng lượng và chất dinh dưỡng nên không tăng cân, chiều cao và giảm trí thông minh. Do đó, chế độ ăn của trẻ SDD có nguyên tắc chung là làm tăng năng lượng và tăng chất dinh dưỡng.
Những cách làm tăng năng lượng và tăng chất dinh dưỡng cho trẻ là:
Tăng dầu mỡ: vì dầu mỡ cung cấp năng lượng gấp đôi chất bột và chất đạm. Mỗi chén bột, cháo hoặc cơm của trẻ cần có một muỗng canh dầu hoặc mỡ.
Nấu đặc: vì nếu nấu loãng, nhiều nước thì năng lượng sẽ thấp. Nấu đặc trẻ sẽ khó ăn do đó ta dùng men amylase (có trong bột mộng bắp) hoặc neopeptin nhỏ vào chén bột đặc sẽ làm bột lỏng ra và trẻ sẽ dễ ăn hơn.
Tăng bữa ăn: ngày ăn 5 - 6 bữa thay vì chỉ ăn 3 bữa. Cho trẻ ăn thêm bữa tối trước khi ngủ. Ăn thêm bữa phụ: ví dụ như sau khi ăn bữa chính nếu trẻ ăn ít hơn nửa chén thì cho trẻ uống bù nửa ly sữa hoặc nửa hũ yaourt, nửa quả chuối hay một cái bánh flan... Như vậy sẽ giúp trẻ ăn ngon miệng hơn là ép trẻ ăn hết khẩu phần cơm hoặc cháo. Tại sao lại một nửa mà không phải là một? Điều này có ý muốn nói rằng cho trẻ ăn thêm vừa sức của trẻ, không nên ép ăn hết khi trẻ đã chán. Vì làm thế, trẻ sẽ nôn thức ăn ra và sẽ rất "sợ ăn" dẫn tới biếng ăn sau này. Đặc biệt trẻ SDD nên cho ăn thêm một bữa tối trước khi đi ngủ.
Tăng cường chất dinh dưỡng: thức ăn nên đủ chất dinh dưỡng nhưng phải cho trẻ ăn cả xác thực phẩm. Do đó, khi chế biến phải chú ý xắt nhuyễn, nấu mềm và nêm phù hợp với khẩu vị của trẻ. Trẻ thường ăn lạt và không thích có nhiều mùi gia vị. Những thực phẩm thích hợp với trẻ nhỏ là trứng, thịt bằm, cá bằm, rau cũng nên xắt nhuyễn.
Lưu ý: không nên cho trẻ uống nước trái cây trước khi ăn hoặc coi nước trái cây là một bữa phụ vì nước trái cây rất ít năng lượng, ít chất xơ, chỉ có vitamin tan trong nước và có đường nên sẽ làm trẻ "ngang dạ" không muốn ăn bữa chính.
Khi đã bị SDD thì trẻ cần được bổ sung một số vi chất dinh dưỡng (vitamin và muối khoáng). Việc sử dụng loại thuốc nào với liều lượng bao nhiêu phải theo tư vấn của các bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng. Các bà mẹ không nên tự ý mua thuốc cho con vì tuy là "thuốc bổ" nhưng nếu dùng không đúng cũng sẽ gây hậu quả không tốt cho sức khỏe của trẻ.
Dược thảo chữa suy dinh dưỡng trẻ em
Y học cổ truyền gọi suy dinh dưỡng ở trẻ em là chứng cam. Bệnh này luôn liên quan đến sự tích trệ thức ăn nên được gọi là cam tích. Đông y có rất nhiều vị thuốc đạt kết quả tốt trong điều trị bệnh này.
Trong y học cổ truyền, suy dinh dưỡng độ 1 được chữa như tiêu chảy; độ 2 (tiêu chảy suy dinh dưỡng) gọi là tỳ hư, gây chứng cam; độ 3 gọi là can cam (cam thể khô). Các dược thảo chữa cam gồm:
Bạch thược: Có tác dụng kháng khuẩn, ức chế co thắt cơ trơn, giảm đau; được dùng chữa đau bụng, tiêu chảy do co bóp quá mạnh, ra mồ hôi trộm, tiểu tiện khó. Ngày dùng 6-12 g bạch thược sống, dạng thuốc sắc.
Bạch truật: Có tác dụng chống viêm, chống loét các cơ quan đường tiêu hóa, chống suy giảm chức năng gan, tăng tiết mật, lợi tiểu. Là vị thuốc bổ dùng điều trị bụng trướng đầy, ăn chậm tiêu, nôn mửa, tiêu chảy, phân sống, viêm ruột mạn tính. Ngày dùng 6-12 g dưới dạng thuốc sắc hoặc bột.
Cà rốt: Ngoài công dụng làm thức ăn, cà rốt được dùng cho người gầy còm, thiếu máu, ăn uống chậm tiêu, chữa lỵ mạn tính, trẻ em tiêu chảy, chậm lớn hay răng mọc chậm. Ngày dùng 20-50 g. Cà rốt còn được dùng làm nguyên liệu chế thành caroten.
Chỉ thực: Chữa ăn uống không tiêu, đầy hơi, tích trệ, tiểu tiện khó. Ngày dùng 6-12 g dưới dạng thuốc sắc.
Đẳng sâm: Có tác dụng bổ toàn thân, kích thích miễn dịch, tăng hồng cầu. Được dùng chữa tỳ vị hay kém ăn, tiêu chảy, cơ thể suy nhược.
Đậu ván trắng (bạch biển đậu): Quả non đậu ván trắng là món ăn giàu chất bổ, quả già cho hạt làm thuốc dùng bồi bổ cơ thể, chữa tỳ vị hư nhược, chán ăn, tiêu chảy lâu ngừng, đau bụng, nôn mửa, đầy bụng khó tiêu, trẻ em cam tích. Ngày dùng 6-12 g, sắc uống.
Hạt sen (liên nhục): Có tác dụng bổ tỳ, dùng điều trị tỳ hư, tiêu chảy mạn tính, kém ăn, cơ thể suy nhược. Ngày dùng 12-30 g, dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.
Hoài sơn: Là một vị thuốc bổ, chữa tỳ vị hư nhược, ăn uống kém tiêu, viêm ruột mạn tính, tiêu chảy kéo dài. Ngày uống 12-24 g dạng thuốc sắc, thuốc bột.
Mạch nha: Chứa các chất men có tác dụng giúp tiêu hóa thức ăn có tinh bột, làm ăn ngon, trị sôi bụng.
Nga truật (nghệ đen): Có tác dụng tăng tiết mật, kích thích tiêu hóa, dùng chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi. Ngày dùng 3-6 g dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.
Phục linh: Có tác dụng chống nôn, trị tiêu chảy kéo dài, tăng cường miễn dịch, bảo vệ gan. Được dùng làm thuốc bổ, chữa tỳ hư, kém ăn, bụng đầy trướng, tiêu chảy. Ngày dùng 5-10 g dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.
Sa nhân: Sa nhân và tinh dầu sa nhân có tác dụng kháng khuẩn, kích thích và giúp tiêu hóa, chữa ăn không tiêu, đau bụng lạnh, tiêu chảy. Ngày dùng 3-6 g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.
Trần bì: Chữa ăn không tiêu, đau bụng, nôn mửa. Ngày dùng 4-12 g dạng thuốc sắc hay thuốc bột.
ý dĩ: Do có lượng protid, chất béo và lượng tinh bột khá cao nên ý dĩ được coi là có tác dụng bổ, dùng chữa rối loạn tiêu hóa, đau bụng, tiêu chảy, làm thuốc bồi dưỡng cơ thể, nhất là đối với trẻ em. ý dĩ hầm với hạt sen và thịt nạc là một loại thức ăn, thuốc điều trị người gầy yếu, trẻ em suy dinh dưỡng. Ngày dùng 8-30 g, dạng thuốc sắc.
Điều trị suy dinh dưỡng do tiêu chảy
Bệnh do tỳ hư, còn gọi là tỳ cam, tương ứng với suy dinh dưỡng độ 2. Triệu chứng: Mặt vàng, người gầy, miệng khô, khát nước, sôi bụng, tiêu chảy. Có trường hợp do tân dịch giảm gây táo bón, bụng to, gân xanh nổi lên, nước tiểu đục trắng, rêu lưỡi trắng. Phương pháp chữa chính là bổ khí, bổ tỳ vị.
- Hoài sơn 12 g, bạch truật, sinh địa mỗi vị 6 g; cam thảo nam, thạch môn mỗi vị 4 g; sa nhân 2 g. Sắc uống ngày một thang.
- Hoài sơn, đậu ván trắng mỗi vị 8 g, bạch truật 6 g, chỉ thực, trần bì, kê nội kim mỗi vị 4 g. Sắc uống ngày một thang. Nếu do tích trệ thức ăn, bụng trướng, thêm đại phúc bì, sơn tra, thần khúc mỗi vị 4 g. Nếu do nhiễm giun gây tích trệ, đau bụng, thêm sử quân tử 4 g.
- Hoàng liên, thần khúc, mạch nha mỗi vị 6 g; bạch truật, trần bì, cam thảo, nga truật, thanh bì, sử quân tử, hoàng liên mỗi vị 4 g; binh lang, tam lăng mỗi vị 2 g, lô hội 0,2 g. Sắc uống ngày một thang.
- Hoài sơn, ý dĩ, mạch nha mỗi vị 100 g; đẳng sâm, bạch truật mỗi vị 50 g; hạt cau, vỏ quýt mỗi vị 25 g. Tất cả sao vàng, tán thành bột mịn, trộn đều, mỗi ngày uống 16-20 g bột.
- Chữa suy dinh dưỡng, tiêu chảy do nhiễm giun: Sơn dược, đậu ván trắng, sử quân tử, thần khúc mỗi vị 80 g; hoàng liên, sơn tra, bạch đậu khấu mỗi vị 40 g; binh lang 20 g, ngân sài hồ, mạch nha mỗi vị 6 g; lô hội 5 g. Tán nhỏ làm viên, ngày uống 4-8 g.
Điều trị suy dinh dưỡng thể khô
Bệnh do khí huyết hư, can thận hư, gọi là can cam, tương ứng với suy dinh dưỡng độ 3. Triệu chứng: Người gầy, da khô, bộ mặt già, tinh thần mệt mỏi, kém ăn, tiếng khóc nhỏ, rêu lưỡi mỏng khô, lông, tóc khô. Ngoài ra còn có các triệu chứng khác như khô loét giác mạc, loét miệng, tử ban (lắng đọng sắc tố), phù thũng… Phương pháp chữa là bổ khí huyết, bổ can, thận tỳ vị.
- Thục địa 12 g; hà thủ ô, kê huyết đằng, ý dĩ, đậu đen, hạt sen mỗi vị 8 g; bạch truật, ngũ gia bì, kê nội kim mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.
- Hoài sơn (sao) 60 g; phục linh, đậu ván trắng, sơn tra, mạch nha, thần khúc, đơn quy mỗi vị 45 g; bạch truật (sao), trần bì, sử tử quân, mỗi vị 30 g; hoàng liên, cam thảo mỗi vị 20 g. Tán bột, rây mịn, trộn với mật ong hoàn thành viên bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 3 g, ngày uống 2-3 lần.
- Đẳng sâm, bạch truật, thục địa, xuyên khung, đơn quy, bạch thược mỗi vị 8 g; phục linh 6 g; cam thảo 4 g. Sắc uống ngày một thang. Nếu loét khô giác mạc, thêm kỷ tử, cúc hoa mỗi vị 8 g. Nếu loét miệng, thêm ngọc trúc, thăng ma mỗi vị 6 g; hoàng liên 4 g. Nếu tử ban (lắng đọng sắc tố) thêm hoàng kỳ, a giao. Nếu có sốt mà xuất huyết, thêm sinh địa, rễ cỏ tranh mỗi vị 12 g; đan bì 6 g. Nếu có phù dinh dưỡng, thêm phục linh 12 g, quế chi 2 g.
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em

1. Tầm quan trọng của suy dinh dưỡng:
Suy dinh dưỡng do thiếu protein- nǎng lượng (thường gọi là suy dinh dưỡng) là tình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em nước ta. Biểu hiện của suy dinh dưỡng là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy và viêm đường hô hấp, trẻ bị giảm khả nǎng học tập, nǎng suất lao động kém khi trưởng thành.
Nǎm 2000 ở nước ta có 2,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, chủ yếu là suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa. Tuy vậy, các thể suy dinh dưỡng này cũng có ý nghĩa quan trọng vì đứa trẻ dễ mắc bệnh, tǎng nguy cơ tử vong và thường kèm theo thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng. Đáng chú ý là trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa ít được người mẹ, các thành viên khác trong gia đình chú ý tới vì trẻ vẫn bình thường. ở một cộng đồng (xóm, làng, xã) có nhiều trẻ suy dinh dưỡng, ta càng khó nhận biết được vì chúng đều "nhỏ bé" như nhau. Do đó, suy dinh dưỡng trẻ em cần được sự quan tâm của mọi người.
2. Làm thế nào để biết trẻ bị suy dinh dưỡng?
Theo dõi cân nặng hàng tháng là cách tốt nhất để nhận ra đứa trẻ bị suy dinh dưỡng hay không. Trẻ bị suy dinh dưỡng khi không tǎng cân, nhẹ cân hơn đứa trẻ bình thường cùng tuổi.
3. Tại sao trẻ bị suy dinh dưỡng?
Thiếu ǎn, bữa ǎn thiếu số lượng, thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển:
Trẻ dưới 5 tuổi có nhu cầu dinh dưỡng cao để phát triển cơ thể. Để đáp ứng nhu cầu đó, cần cho trẻ ǎn uống đầy đủ theo lứa tuổi. Trẻ dưới 4 tháng tuổi cần được bú mẹ hoàn toàn. Sữa mẹ là thức ǎn lý tưởng của trẻ nhỏ. Từ tháng thứ 5 trẻ bắt đầu ǎn thêm ngoài sữa mẹ. Từ tháng tuổi này, thực hành nuôi dưỡng trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với suy dinh dưỡng. Nhiều bà mẹ chỉ cho trẻ ǎn bột muối, thức ǎn sam (dặm) thiếu dầu mỡ, thức ǎn động vật, rau xanh, hoa quả. Đây là những tập quán nuôi dưỡng chưa hợp lý cần được khắc phục. Mặc khác, để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, trẻ cần được ǎn nhiều bữa trong ngày vì trẻ nhỏ không thể ǎn một lần với khối lượng lớn như trẻ lớn hoặc người lớn. Điều này có liên quan đến vấn đề chǎm sóc trẻ.
Người mẹ bị suy dinh dưỡng: Người mẹ trước và trong khi mang thai ǎn uống không đầy đủ dẫn đến bị suy dinh dưỡng và có thể đẻ ra đưa con nhẹ cân, còi cọc. Đứa trẻ bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai sẽ dễ bị suy dinh dưỡng sau này. Người mẹ bị suy dinh dưỡng, ǎn uống kém trong những tháng đầu sau đẻ dễ bị thiếu sữa hoặc mất sữa, do đó đứa con dễ bị suy dinh dưỡng.
Các bệnh nhiễm khuẩn như viêm đường hô hấp, tiêu chảy, các bệnh ký sinh trùng: Đây là tình trạng hay gặp ở nước ta. Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý khi trẻ bệnh là một nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng sau mắc bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi.
Thiếu chǎm sóc hay đứa trẻ bị "bỏ rơi": Ngoài chǎm sóc về ǎn uống, đứa trẻ cần chǎm sóc về sức khoẻ (tiêm chủng, phòng chống nhiễm khuẩn), chǎm sóc về tâm lý, tình cảm và chǎm sóc về vệ sinh. Môi trường sống ở gia đình bị ô nhiễm, sử dụng nguồn nước không sạch để nấu ǎn, tắm giặt cho trẻ, sử lý nước thải, phân, rác không đảm bảo là những yếu tố dẫn đến suy dinh dưỡng.
4. Những đứa trẻ nào dễ bị suy dinh dưỡng?
Trẻ từ 6-24 tháng: thời kỳ có nhu cầu dinh dưỡng cao, thời kỳ thích ứng với môi trường, thời kỳ nhạy cảm với bệnh tật.
Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc không đủ sữa.
Trẻ đẻ nhẹ cân (<2500g), trẻ để sinh đôi, sinh ba.
Trẻ ở gia đình đông con, điều kiện vệ sinh kém, gia đình không hoà thuận.
Trẻ hiện đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn như: bệnh sởi, tiêu chảy hay viêm đường hô hấp …
5. Cần làm gì để phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại mỗi gia đình?
Muốn phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, cần có sự hiểu biết, chủ động và thay đổi thực hành của mỗi gia đình. Do đó, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng lấy gia đình là đối tượng thực hiện công tác chǎm sóc dinh dưỡng cho trẻ em. Mọi gia đình đều hưởng ứng và thực hiện 8 nội dung cụ thể sau đây:
1. Chǎm sóc ǎn uống của phụ nữ có thai để đạt mức tǎng cân 10-12 cân trong thời gian có thai. Khám thai ít nhất 3 lần, tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván.
2. Cho trẻ bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh, bú hoàn toàn sữa mẹ trong 4 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18-24 tháng.
3. Cho trẻ ǎn bổ sung (ǎn sam, dặm) từ tháng thứ 5. Tô màu đĩa bột, tǎng thêm chất béo (dầu, mỡ, lạc, vừng).
4. ǎn nhiều bữa. Thực hiện phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng: Phụ nữ có thai uống viên sắt/ acid folic hàng ngày. Trẻ em 6-36 tháng uống vitamin A liều cao 2 lần một nǎm. Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, viêm đường hô hấp). Thực hiện tiêm phòng đầy đủ. Chǎm sóc và nuôi dưỡng hợp lý trẻ bị bệnh.
5. Phát triển ô dinh dưỡng trong hệ sinh thái VAC (vườn, ao, chuồng) để có thêm thực phẩm cải thiện bữa ǎn gia đình. Chú ý nuôi gà, vịt để trứng, trồng rau ngót, đu đủ, gấc.
6. Phấn đấu bữa ǎn nào cũng có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm (cung cấp nǎng lượng), cần có đủ
3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ); đậu phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp ǎn ngon miệng.
7. Thực hiện vệ sinh môi trường, dùng nguồn nước sạch, tẩy giun theo định kỳ, rửa tay trước khi ǎn và sau khi đi đại tiểu tiện. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm, thức ǎn không là nguồn gây bệnh.
8. Thực hiện gia đình hạnh phúc, có nếp sống vǎn hoá, nǎng động, lành mạnh. Có biểu đồ tǎng trưởng để theo dõi sức khoẻ của trẻ. Không có trẻ suy dinh dưỡng, không sinh con thứ ba.


Mọi thông thi về chăm sóc bé biếng ăn các mẹ có thể tham khảo ở web www.biengan.org và www.bekhoebengoan.com.vn để biết thêm thông tin hoặc gọi về số 0904 855 135 , 043 661 7869 để gặp trực tiếp chuyên gia tư vấn.